Nhua

Phân loại theo hiệu ứng của polyme với nhiệt độ:

Ngày nay người ta thường trộn thêm các chất phụ gia khi sản xuất. Nhằm làm cải tiến hiệu suất (làm tăng độ dai, độ cứng, độ mềm, độ dẻo).
    
    Hoặc làm giảm chi phí sản xuất (độn các vật liệu rẻ tiền để làm cho sản phẩm rẻ hơn trên một đơn vị trọng lượng) ra.
    
    Người ta còn độn thêm các chất chống cháy để làm giảm tính cháy của vật liệu. Các chất độn thường là các loại khoáng như đá phấn. Trong đó phẩm màu là các chất phụ gia phổ biến nhất. Mặc dù trọng lượng của chúng chiếm tỉ lệ nhỏ (phẩm màu có dạng gạt,dạng phấn,dạng lỏng.)

3. Phân loại nhựa.

Sau khi quá trình này kết thúc, các hợp chất khác nhau được tạo ra sẽ được tạo thành một chuỗi.

Chuỗi này được biết đến như một polyme. Tạo ra các chuỗi và polyme khác nhau cho phép các công ty nhựa tạo ra các loại nhựa có các đặc tính khác nhau. Sự khác biệt khiến chúng được sử dụng trong các ứng dụng khác nhau.

Đối với ngành công nghiệp thực phẩm, một loại polyme đặc biệt có thể đóng gói các sản phẩm nóng.

Đối với các công ty sản xuất chai lọ, chai nước ngọt và hộp đựng chất thải, họ sẽ cần polyethylene terephthalate.

Cần có polyethylene mật độ cao hơn cho các loại nhựa dày hơn được sử dụng cho chai thuốc, hộp đựng phim và bình sữa. Khi gói thực phẩm như thức ăn thừa, bạn thường sẽ lấy một bọc nhựa mỏng trong suốt, được làm từ polyvinyl clorua.

a. Phân loại theo hiệu ứng của polyme với nhiệt độ:

    Nhựa nhiệt dẻo: Là loại nhựa mà khi nung nóng đến nhiệt độ chảy mềm thì nó chảy mềm ra. Và khi hạ nhiệt độ thì nó đóng rắn lại. Loại này thường được tổng hợp bằng phương pháp trùng hợp. Các mạch đại phân tử của nhựa nhiệt dẻo liên kết bằng các liên kết yếu (liên kết hydro, vanderwall). Tính chất cơ học không cao khi so sánh với nhựa nhiệt rắn. Nhựa nhiệt dẻo có khả năng tái sinh được nhiều lần, ví dụ như: Polyetylen (PE), polypropylen (PP), polystyren (PS), poly metyl metacrylat (PMMA), poly butadien (PB), poly etylen tere phtalat (PET),...
    Nhựa nhiệt rắn: Là một hợp chất cao phân tử có khả năng chuyển sang trạng thái không gian 3 chiều dưới tác dụng của nhiệt độ; Hoặc tác động của phản ứng hóa học. Sau đó không nóng chảy hay hòa tan trở lại được nữa, không có khả năng tái sinh. Một số loại nhựa nhiệt rắn như: Ure focmadehyt [UF], nhựa epoxy, phenol formaldehyde (PF), nhựa melamin, poly este không no...
    Vật liệu đàn hồi (elastome): Là loại nhựa có tính đàn hồi như cao su.

b. Phân loại theo ứng dụng:

    Nhựa thông dụng: Là loại nhựa được sử dụng số lượng lớn, giá rẻ. Được dùng nhiều trong Quy trình sản xuất nhựa như: PP, PE(HDPE), PS, PVC, PET, ABS,...
    Nhựa kỹ thuật: Là loại nhựa có chất cơ lý trội hơn so với các loại nhựa thông dụng. Thường dùng trong các mặt hàng công nghiệp, như: PC, PA,.....
Nhua


4. ỨNG DỤNG của nhựa.

Nhựa là vật liệu cực kỳ linh hoạt và lý tưởng cho một loạt các ứng dụng trong đời sống và công nghiệp. Nhựa được sử dụng trong hầu hết các lĩnh vực, bao gồm sản xuất bao bì, xây dựng và xây dựng, dệt may, sản phẩm tiêu dùng, giao thông vận tải, điện và điện tử và máy móc công nghiệp.

Hàng không vũ trụ

Việc vận chuyển người và hàng hóa an toàn và hiệu quả về mặt chi phí là rất quan trọng đối với nền kinh tế của chúng ta, việc cắt giảm trọng lượng của ô tô, máy bay, tàu thuyền và tàu hỏa có thể cắt giảm đáng kể mức tiêu thụ nhiên liệu. Do đó, độ nhẹ của nhựa khiến chúng trở nên vô giá đối với ngành vận tải.

Vật liệu xây dựng

Nhựa xây dựng được sử dụng ngày càng nhiều trong các ứng dụng trong ngành xây dựng.

Chúng có tính linh hoạt cao và kết hợp tỷ lệ sức mạnh trên trọng lượng tuyệt vời, độ bền, hiệu quả chi phí, bảo trì thấp và chống ăn mòn làm cho nhựa trở thành một lựa chọn hấp dẫn về mặt kinh tế trong lĩnh vực xây dựng. Sản phẩm tiêu biểu có thể kể đến đó chính là các tấm bạt che chắn công trình, lưới an toàn, lưới chắn bụi, ...

Các ứng dụng điện và điện tử

Điện năng cung cấp hầu hết mọi khía cạnh của cuộc sống của chúng ta, ở nhà và trong công việc, tại nơi làm việc và khi vui chơi. Và ở mọi nơi chúng ta tìm thấy điện, chúng ta cũng tìm thấy chất dẻo.
Bao bì nhựa

Nhựa là vật liệu hoàn hảo để sử dụng trong đóng gói hàng hóa. Nhựa rất linh hoạt, bền, nhẹ, linh hoạt và có độ bền cao.

Nó chiếm lượng nhựa sử dụng lớn nhất trên toàn thế giới và được sử dụng trong nhiều ứng dụng đóng gói bao gồm hộp đựng, chai lọ, thùng phuy, khay, hộp, cốc và bao bì bán hàng tự động, sản phẩm trẻ em và bao bì bảo vệ.
Sản xuất năng lượng

Tua bin gió, tấm pin mặt trời và bùng nổ sóng
Đồ nội thất

Bộ đồ giường, vải bọc và đồ nội thất gia đình, ống nước nhựa, ống nhựa PVC, ... Tiêu biểu có Ống nhựa Tiền Phong là 1 nhà cung cấp ống nhựa chất lượng cao cả trong và ngoài nước.
Ngành y tế

Ống tiêm y tế và chăm sóc sức khỏe , túi bood, tubins, máy lọc máu, van tim, chân tay giả và băng vết thương

Mũ bảo hiểm quân sự , áo giáp, xe tăng, tàu chiến, máy bay và thiết bị thông tin liên lạc, ...
Về nguyên tắc thì chúng ta có thể chế tạo nhựa theo ứng dụng mong muốn bằng việc kết hợp các đặc tính của nhựa. Do các đặc tính hấp dẫn này, nhựa ngày càng được sử dụng phổ biến trong nhiều ứng dụng như:

Dưới đây là hướng dẫn tham khảo nhanh về việc tái chế nhựa ở San José:

Có thể tái chế

    Chai và hộp đựng PET # 1
    Chai và hộp đựng HDPE #2
    Chai và hộp đựng #3 – #5, #7
    Các vật dụng nhựa bền như hộp đựng xà phòng giặt và bình nhựa lớn

Không thể Tái chế

    Nhựa nhỏ, mỏng manh dễ bị vỡ, xé hoặc mủn. Các vật dụng này bao gồm: túi nhựa, ống hút nhựa, đồ dùng bằng nhựa, màng bọc nhựa, túi đựng bánh sandwich bằng nhựa, túi đựng khoai tây nhựa, giấy gói kẹo, túi đựng thực phẩm và đồ uống, túi thực phẩm đông lạnh
    Hộp đựng thức ăn mang đi, cốc, vỉ đựng trứng và khay đựng thịt bằng xốp
    Cốc, đĩa, bát và đồ dùng được dán nhãn “có thể phân hủy”

Cùng với các vật liệu có thể tái chế khác, tất cả các vật dụng bằng nhựa của San José được thu gom, phân loại và xử lý, bán trên thị trường hàng hóa trên toàn thế giới và cuối cùng được tái sản xuất thành các sản phẩm hoặc bao bì mới. Thị trường quyết định cuối cùng những gì được tái chế nhưng ở San José.

Chúng tôi đảm bảo các hợp đồng với nhà cung cấp dịch vụ thu gom tái chế của chúng tôi không cho phép các chất tái chế theo chương trình bị đem đi chôn lấp khi thị trường biến động.

Khi quý vị tái chế đúng cách, quý vị sẽ giúp giảm chi phí chương trình, tiết kiệm thời gian và công sức, đồng thời giúp đảm bảo rằng tất cả đồ tái chế của chúng ta đều được tái chế. Khi có quá nhiều vật dụng bẩn hoặc quá nhiều vật dụng không phù hợp bị cho vào thùng tái chế, chi phí để loại bỏ những đồ này tại cơ sở tái chế sẽ tăng lên.

Dọn sạch đồ tái chế là cách tốt nhất để đảm bảo nhựa được chấp nhận được tái chế. Chai, lọ và các vật chứa khác cần phải được loại bỏ hết thực phẩm và chất lỏng để tái chế. Làm rỗng và cạo sạch các hộp nhựa để chúng có thể được tái chế, bán và làm thành các sản phẩm mới.

San José cam kết giảm thiểu rác thải nhựa.

Thành phố đã ban hành Sắc lệnh về Hộp đựng Thực phẩm bằng Xốp và Sắc lệnh Tự Mang Túi Của Mình để khuyến khích các phương pháp bền vững đồng thời liên tục thúc đẩy và phổ biến kiến thức cho người dân San José về các phương pháp hay nhất về giảm thiểu rác thải và tái chế.

Nhua

Dựa theo cấu trúc phân tử bên trong của 3 nhóm nhựa nói trên cũng giúp chúng ta định nghĩa được một cách khái quát và phân biệt được thuộc tính khác nhau của chúng
Nhựa-nhiệt:
Các đơn phân tử có cấu trúc nối tiếp, nằm cạnh nhau, không phân nhánh. Khi bị đun nóng những phân tử này sẽ trượt xa nhau ra làm cho toàn diện vật thể biến dạng theo. Khi nguội lại vật thể đông cứng dần và tồn tại với hình dạng mới trong điều kiện nhiệt độ bình thường. Nhờ thuộc tính nóng chảy và đông cứng này nhựa-nhiệt có thể được ứng dụng và tái tạo lại nhiều lần.
Nhựa-cứng:
Bên trong nó các cao phân tử nối kết nằm cùng với nhau, tạo thành những mạng lưới nối kết rất chặt chẽ. Với nhiệt độ cao ( tương đối khi so sánh với nhựa-nhiệt ) không thể làm cho cấu trúc các phân tử thay đổi, do đó hình dạng vật thể bên ngoài cũng không thay đổi. Nhựa-cứng có độ bền cao với tác dụng của nhiệt và tính cách điện rất tốt. Trái với nhựa nhiệt, nhựa-cứng không thể nấu chảy để xử dụng lại nhiều lần.
Nhựa-đàn-hồi:
Bên trong nó các cao phân tử nối kết rối loạn không theo thứ tự với nhau. Khi vật thể bị nén thì tất cả cấu trúc cao phân tử bên trong cũng biến đổi theo. Khi để vật thể tự do, tất cả cấu trúc phân tử rối loạn đó sẽ trở về vị trí lúc ban đầu.



Thuộc tính và ứng dụng của nhựa.

Sinh hoạt hằng ngày của chúng ta được phục vụ bởi vô số những hàng hóa, sản phẩm được chế biến, gia công từ nhựa, và hầu như điều này trở thành đương nhiên không thể thiếu trong suy nghĩ của mọi người.

Chúng ta cũng có thể gọi thời đại chúng ta đang sống hiện nay là thời dại của nhựa nhân tạo.

Tuy nhiên chúng ta vẫn biết rất ít về những tính chất khác biệt cùng với những ứng dụng muôn mặt cũng như dạng suất hiện của nhựa, những tác dụng độc hại cho sức khỏe, môi trường sống, lại càng ít biết đến thành phần cấu tạo hoá học bên trong của chúng.

Nhựa nhân tạo cũng được gọi với tên "nhựa tổng hợp" hay “chất dẻo“ ( Plastic ) là một loại hợp chất hữu cơ, đã được các nhà khoa học tìm ra trong 4 thập kỷ trở lại đây và nó đã, đang, và sẽ bành trướng mãnh liệt trong các ngành công nghiệp chế biến hàng tiêu dùng, đóng gói, cơ khí, điện khí và điện tử, xe hơi, hàng không..vv..

Tóm lại nhựa là vật liệu sẽ thay thế dần các vật liệu cổ điển khác như gỗ, khoáng chất và kim loại.
Các nguyên liệu quan trọng góp phần tạo ra nhựa thường là những chất có sẵn trong thiên nhiên như Cellulose, mủ cao-su ...hay bán thành phẩm của thiên nhiên Ethin, Benzol, khí Ethen und Propylen. Sau cùng là dầu hỏa, hay các sản phẫm từ dầu hỏa, khí đốt, vôi, than đá....

Hiện nay xuất hiện rất nhiều loại nhựa khác nhau từ các phòng thí nghiệm, với những khả năng rất đặc biệt và chuyên sâu cho từng điều kiện và lĩnh vực ứng dụng. Chúng ta có thể phân biệt ra 2 đặc tính cơ bản của nhựa khi quan sát các mặt hàng tiêu dùng hằng ngày. Thí dụ: bao nhựa (còn được gọi với tên thông dụng "bao nylon“, mặc dù không phải tất cả các bao nhựa đều có thành phần cấu tạo hoá học từ Nylon ) sẽ chảy ra khi bị đốt nóng.
Trong khi đó ổ cấm điện ( bằng nhựa ) không hề hấn gì.

Kế đến chúng ta sẽ nhận thấy tấm nệm mút (cao su tổng hợp) lót dưới ghế ngồi sẽ biến dạng khi chịu một lực nén và trở lại dạng lúc ban đầu khi không còn tác động của lực nén. Hai thuộc tính (nhiệt và cơ) nói trên cho chúng ta phân biệt được ba nhóm nhựa cơ bản.

Nhựa-nhiệt ( Thermoplast ): Với tác dụng của nhiệt chúng sẽ biến đổi dạng ( nóng chảy ). v/d cốc đựng nước uống ( xem hình bên dưới ).

Nhựa-cứng ( Duroplast ): Loại nhựa có độ bền cao khi chịu sự tác dụng của nhiệt .v/d ổ cấm điện

Nhựa-đàn-hồi ( Elastomere ): Thể hiện với tên gọi, chúng có tính đàn hồi cao .v/d nệm cao-su

Một vài thí nghiệm đơn giản để phân biệt tính khác nhau của 3 nhóm nhựa: Nhựa-nhiệt, nhựa-cứng và nhựa-đàn-hồi.

Dựa theo cấu trúc phân tử bên trong của 3 nhóm nhựa nói trên cũng giúp chúng ta định nghĩa được một cách khái quát và phân biệt được thuộc tính khác nhau của chúng

Nhựa-nhiệt:

Các đơn phân tử có cấu trúc nối tiếp, nằm cạnh nhau, không phân nhánh. Khi bị đun nóng những phân tử này sẽ trượt xa nhau ra làm cho toàn diện vật thể biến dạng theo. Khi nguội lại vật thể đông cứng dần và tồn tại với hình dạng mới trong điều kiện nhiệt độ bình thường. Nhờ thuộc tính nóng chảy và đông cứng này nhựa-nhiệt có thể được ứng dụng và tái tạo lại nhiều lần.

Nhựa-cứng:
Bên trong nó các cao phân tử nối kết nằm cùng với nhau, tạo thành những mạng lưới nối kết rất chặt chẽ. Với nhiệt độ cao ( tương đối khi so sánh với nhựa-nhiệt ) không thể làm cho cấu trúc các phân tử thay đổi, do đó hình dạng vật thể bên ngoài cũng không thay đổi. Nhựa-cứng có độ bền cao với tác dụng của nhiệt và tính cách điện rất tốt. Trái với nhựa nhiệt, nhựa-cứng không thể nấu chảy để xử dụng lại nhiều lần.

Nhựa-đàn-hồi:

Bên trong nó các cao phân tử nối kết rối loạn không theo thứ tự với nhau. Khi vật thể bị nén thì tất cả cấu trúc cao phân tử bên trong cũng biến đổi theo. Khi để vật thể tự do, tất cả cấu trúc phân tử rối loạn đó sẽ trở về vị trí lúc ban đầu.

Ngoài ra người ta có thể nhận biết, phân biệt các loại nhựa dựa theo các thí nghiệm sau đây

* Thông suốt ánh sáng: Cấu trúc phân tử và tinh thể giữ vai trò quan trọng cho thuộc tính của nhựa. Thí dụ: trong suốt ( như thuỷ tinh ), trong vừa, trắng đục..vv..
* Đốt cháy: Hình dáng, màu sắc ngọn lửa và mùi khói sau khi tắt cũng là những đặc tính quan trọng để xếp loại nhựa. Do phân tử có chứa các nguyên tử C ( carbon ), H ( hydro ) nên nhiều loại nhựa có thể cháy được, và thông qua các chất phụ v/d Halogenen như Chlor và Fluor bên trong các phân tử sẽ ảnh hưởng đến hiện tượng cháy.
* Hình nổi: Người ta phân biệt hiện tượng vỡ trắng, vỡ to, vỡ nhỏ..vv...Dùng móng tay hay đinh để xác định độ cứng bề mặt của hình vỡ.
* Tính hoà tan: Nhựa có tính bền cao trong dung môi hữu cơ.
* Tính dẫn điện: rất thấp và được thông qua một lượng nhỏ âm điện tử tự do và những i-on chuyển động. Tuy nhiên nhựa có tính tĩnh điện rất cao do những âm điện tử tự do, dùng lực chà sát tác dụng lên bề mặt nhựa sẽ tạo ra tĩnh điện .
* Tính dẫn nhiệt: rất thấp và tuỳ thuộc vào cấu trúc không đìều đặn bên trong của các phân tử. So sánh trị số dẫn nhiệt giữa kim loại đồng = 335 và Polystyrol = 0,14 cho thấy trị số tương quan 335 : 0,14 = 2400. Đồng dẫn điện nhanh hơn Polystyrol 2400 lần ( với mẫu thí nghiệm có cùng kích thước ), và Polystyrol cũng cần thời gian làm nguội 2400 lần lâu hơn đồng. Tương tự cũng có thể hiểu nếu dùng nhiệt (năng lượng ) tác dụng 1 giờ cho đồng thì chúng ta cần 100 ngày cho nhựa . Từ đó cho kết luận: Đồng có tính dẫn điện tốt và nhựa có tính cách điện tốt.
* Tỷ trọng: cho ta điểm tựa để phân biệt các loại nhựa. Tỷ trọng nhựa khoảng 1 g/ cm3. V/d Polyethylen: 0,96 g / m3
Tỷ trọng của một vài nhóm nhựa điển hình được đánh giá theo bảng kê khai dưới đây.

Định nghĩa cơ bản dựa theo cấu trúc hoá học.

Nhựa là một loại vật liệu được điều chế từ các nhóm cao phân tử, cao phân tử được cấu tạo từ những nhóm đơn phân tử nhỏ thông qua phản ứng kết nối. Trạng thái thông thường của nhựa nằm giữa cứng và lỏng, chúng còn được gọi với tên chất dẽo.

2.1 Các nhóm đơn phân tử
Có hai loại hình thái của nhóm đơn phân tử:
Nhóm đơn phân tử có nối đơn, không phân nhánh thí dụ như Ethylenglykol (1), Terephthalsäure (2), Hexamethylendiamin (3), Adipinsäuredichlorid (4) und Harnstoff (5).
Nhóm đơn phân tử đói có nối đôi, có khả năng kết nối hai chiều với hai nhóm phân tử khác. Thí dụ như Ethen (7), Vinylchlorid (8), Formaldehyd (9) und Diisocyanat (10).

2.2 Các loại nhựa cơ bản
Thật ra chỉ có một luợng nhỏ ( khoảng 10 đến 20 ) nhựa cơ bản phần còn lại xuất hiện với dạng hổn hợp, liên hợp ( copolymere ) hay với những tên gọi hư cấu khác nhau. Những loại nhựa liên hợp thường được biết như Butadien liên hợp với Acrylnitril sẽ làm thay đổi và gia tăng tính bền của cao-su. Bên cạnh đó việc ứng dụng nhiều họ nhựa khác nhau, để tạo ra nhựa liên hợp, sẽ gây ra nhiều vấn đề khó khăn cho chu trình tái tạo nhựa.

3. Điều chế nhựa
Như tên gọi của nó nhựa được điều chế từ các phương pháp tổng hợp ( synthetisch ). Các phân tử nhỏ ( monomere ) với tác dụng cơ học hay hoá học sẽ kết nối lại với nhau để tạo thành chuỗi cao phân tử tổng hợp ( Polymere ) của nhựa.

Kết nối này được đơn giản hóa bằng hình tượng tạo dựng mô hình của một cột tháp từ những mẫu LEGO của trẻ con, và những hình thể to lớn hơn cũng được tạo dựng từ những phần nhỏ, riêng biệt trước đó.
Sự hình thành nhựa nhân tạo đến từ hiện tượng kết nối giữa những đơn phân tử ( Momomere ) có sẵn trong một số thành phẫm của dầu hỏa thông qua phương pháp chưng cất. Tuy nhiên nguyên lý chủ yếu cho hiện tượng kết nối này chính là những phản ứng, lệ thuộc rất nhiều vào hoá tính của những phân tử thành phần.

Người ta phân biệt những phản ứng hóa học sau đây đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối các phân tử lại với nhau.
- Phản ứng trùng hợp ( Polymerisation )
- Phản ứng ngưng tụ ( Polykondensation )
- Phản ứng cộng ( Polyaddition )

3.1 Phản ứng trùng hợp

Nhua


Nói cách khác, trong phản ứng trùng hợp các nối đôi mở ra và nối kết với hệ thống các nối đôi khác thành chuỗi cao phân tử có nối đơn.

Người ta cũng diễn đạt đơn giản tiến trình trùng hợp nói trên với một đơn phân tử nằm trong ngoặc, với n biểu tượng cho sự lặp lại nhiều lần.

Một vài loại nhựa điển hình với phản ứng trùng hợp:
* Polyethylen (PE, Hostalentypen),
* Polypropylen (PP, Hostalentypen),
* Polyvinylchlorid (PVC),
* Polymethylmethacrylat (PMMA, Plexiglas, Acrylglas),
* Polyacrylnitril (PA, Polyacryl, Chemiefasern),
* Polystyrol (PS, Styropor),
* Polytetrafluorethen (PTFE, Teflon),
* Butadienpolymerisate (Buna, analoges Naturstoffbeispiel: Polyisopren Kautschuk).

3.2 Phản ứng ngưng tụ

Khởi đầu với phản ứng kết nối của hai phân tử thông qua kết quả tách rời của một phân tử nhỏ nằm trong hai phân tử này, gọi là sản phẩm phụ. Kết quả tách rời thường là nước, rượu, ammoniak, acit hữu cơ.....v/d hiện tượng Ester-hoá.

Phản ứng ngưng tụ cần ít nhất hai nhóm phân tử khác nhau, chứa bên trong những phân tử có khả năng gây phản ứng tạo ra sản phẫm phụ và sau đó tách rời khỏi hai nhóm phân tử đầu tiên, các nhóm phân tử còn lại sẽ kết nối với nhau thành chuỗi cao phân tử.

Thí dụ: phản ứng của hai nhóm Carboxyl (COOH) với nhóm Hydroxyl (OH) tạo ra Ester; còn được gọi với tên Polyester.
Ngoài nhựa Polyester cũng có những sản phẫm khác được nhiều người biết đến, được điều chế từ phản ứng ngưng tụ.
Thí du.: nhựa Phenol-Formaldehyd ( còn được gọi với tên Fóc-mê-ca ), Nylon, Perlon ( ứng dụng cho kỹ nghệ tơ sợi nhân tạo )
Thí dụ: Tiến trình điều chế nhựa Polyesters (PET)
Công thức diễn tả đơn giản:
Một vài loại nhựa điển hình được điều chế với phản ứng ngưng tụ:
* Polyester (PET, Trevira, Terylen, Polycarbonate, Nhiên liệu: DNA)
* Polyamide (Nylon, Perlon, Kevlar, Naturstoffbeispiel: Protein)
* Nhựa Formaldehyd (Nhựa Phenol, nhựa Bakelit, nhựa khai , nhựa Melamin)
* Polycarbonate
* Polyether (Nhiên liệu: Cellulose)
3.3 Phản ứng cộng
Trong phản ứng cộng các nhóm đơn phân tử cộng lại lại với nhau, gần giống như phản ứng trùng hợp, nhưng trong phản ứng cộng không tạo ra sản phẩm phụ.
Thí dụ: Rựu Butandiol cộng với Diisocyanate:
Công thức diễn tả đơn giản:
Một vài loại nhựa điển hình được điều chế với phản ứng cộng:
* Polyurethan (PU)
* Epoxidharze
* Perlon
* Polyether

Số 1 – PET (nhựa Poly Ethlyen Terephthalate): Thường là các loại nước giải khát đóng chai. Loại đồ nhựa này có thể tái sử dụng nhiều lần nhưng tốt nhất là không nên dùng để đựng thực phẩm và tuyệt đối không được đựng đồ nóng, vì thành phần nhựa có thể thôi ra đồ ăn thức uống làm ảnh hưởng đến sức khỏe.

Số 2 – HDPE (nhựa có tỉ trọng Poly Ethylen cao): Thường là các chai sữa, chai nước suối, nước trái cây, thuốc tẩy hay dầu gội đầu. Đây là một loại nhựa khá an toàn, có thể tái sử dụng cho nhiều mục đích. Tuy nhiên, chỉ sử dụng những chai, lọ trước đó là bao bì thực phẩm để đựng thực phẩm và không được đựng đồ nóng.

Số 3 – PVC (Nhựa Polyvinyl Chloride): Thường là chai xà phòng, chai nước tẩy rửa, túi nhựa, đây là loại nhựa độc, không được tái sử dụng.

Số 4- LDPE (Nhựa có tỉ trọng Poly Ethylen thấp):Thường là túi nhựa đựng thực phẩm, có thể tái sử dụng nhưng không nên dùng cho mục đích đựng đồ ăn, thức uống.

Số 5 – PP (nhựa Poly Propylen): Thường là bao bì của các sản phẩm thực phẩm và dược phẩm, đây là loại nhựa an toàn có khả năng chịu nhiệt cao nên có thể tái sử dụng với nhiều mục đích.

Số 6 – PS/PS-E (nhựa Poly Styren/Expanded Poly Styren): Thường gặp nhất là khay đựng trứng, hộp xốp, hộp đựng thức ăn dùng một lần. Đây là loại nhựa dễ dàng thôi ra các chất độc khi gặp nhiệt độ cao, không nên tái sử dụng.

Số 7 – Các loại nhựa khác: Thường là các chai nước lớn, chai đựng nước trái cây, đây là loại nhựa hoặc hỗn hợp nhựa không thuộc 6 loại kể trên, các loại bao bì có kí hiệu này không nên tái chế.

Ngoài ra, TS Giang cho biết, để sử dụng đồ nhựa an toàn cần lưu ý những vấn đề sau:

    Các loại loại ly, bát, đĩa nhựa dùng một lần tuyệt đối không được tái sử dụng để đựng thực phẩm, ngay cả khi chúng được làm từ nhựa PP, bởi ở lần sử dụng tiếp theo, các chất có trong chai lọ nhựa dưới tác động của nhiệt độ và môi trường, nó sẽ bị phân hủy và ngấm vào thực phẩm, có hại cho sức khỏe con người. Nếu muốn tận dụng có thể dùng để đựng những thứ không liên quan đến thực phẩm, một gợi ý cho bạn là tái chế thành chậu trồng cây.
    
    - Chỉ nên sử dụng túi nilon làm từ nhựa PP để đựng thực phẩm, đặc biệt không nên dùng bất cứ loại túi nilon nào để đựng đồ nóng. Chuyên gia này cũng cho biết thêm: “Các loại túi nilon có màu thì càng độc hại bởi ngoài thành phần nhựa, còn có phẩm màu có thể ngấm vào thực phẩm.

- Không nên dùng hộp xốp để đựng thức ăn. “Thực trạng đáng buồn là nhiều quán ăn, đặc biệt là quán cơm bình dân, vẫn sử dụng hộp xốp để đựng thức ăn và nhiều khi là đồ đang còn nóng hổi, dẫn đến nhiều rủi ro về sức khỏe cho thực khách.” – Tiến sĩ Giang phân tích.

Hạt nhựa dùng để làm gì?

Chắc chắn chúng ta đã biết đến những sản phẩm nhựa được sử dụng trong đời sống hằng ngày.

Nhưng bạn biết không, nhựa còn được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, điện tử, điện lạnh, công nghiệp xây dựng,….

Hầu hết ở lĩnh vực nào nguyên liệu nhựa cũng góp phần quan trọng. Nhưng bạn đã nghe nói đến hạt nhựa chưa? Hạt nhựa có liên quan gì đến sản phẩm nhựa? Hạt nhựa dùng để làm gì? Câu trả lời sẽ có ngay sau đây cho bạn.

Hạt nhựa dùng để làm gì?
Hạt nhựa chính là nguyên liệu đầu vào trong sản xuất các sản phẩm nhựa. Hạt nhựa được chia thành nhiều loại khác nhau, trong đó có 3 nhóm chính: nhựa nguyên sinh, nhựa tái chế và nhựa sinh học. Có thể phân biệt 3 nhóm này như sau:

NHỰA NGUYÊN SINH
Nhựa nguyên sinh là sản phẩm nhựa được sinh ra từ quá trình chưng cất phân đoạn dầu mỏ. Hạt nhựa nguyên sinh chưa qua sử dụng thường có màu trắng tự nhiên và người ta có thể pha thêm hạt tạo màu để sản phẩm có màu sắc như mong muốn. Một số loại nhựa nguyên sinh như ABS, PP, PC,PS-GPPS, PA, HIPS, POM, PMMA,….

Nhựa nguyên sinh có đặc tính mềm, dẻo, độ đàn hồi lớn

Nhựa nguyên sinh có đặc tính mềm, dẻo, độ đàn hồi lớn, chịu được cong vênh và áp lực.

Sản phẩm từ nhựa nguyên sinh có tính thẩm mỹ cao do bề mặt bóng, mịn và màu sắc tươi sáng. Hạt nhựa để làm gì? Loại nhựa này thường được dùng để sản xuất các mặt hàng có giá trị cao hoặc sản phẩm đòi hỏi an toàn, kĩ thuật cao như thiết bị y tế, linh kiện ô tô, máy bay…..

Tìm hiểu một số loại nhựa nguyên sinh
Hạt nhựa PP: Có màu trắng trong suốt nhưng thường được pha với các loại hạt tạo màu nhằm tạo ra những sản phẩm đa dạng màu sắc. Tính bền cơ học cao, khá cứng vững, không mềm dẻo như nhựa PE, không bị kéo giãn dài nên được chế tạo thành sợi.

PP không màu, không mùi, không vị, không độc. Khi đốt, PP cháy sáng với ngọn lửa màu xanh nhạt, có dòng chảy dẻo, có mùi gần giống với mùi cao su. PP được ứng dụng vào sản xuất đồ nhựa như thau, rổ, khay nhựa, đồ chơi,…

Hạt nhựa PA: Có độ nhầy cao, dẻo dai, bôi trơn bề mặt, đặc biệt chịu mài mòn nên được ứng dụng trong y tế, linh kiện ô tô, xe máy, máy bay, linh kiện điện tử, ngành may mặc,….

Hạt nhựa ABS: Hạt nhựa có màu trắng tự nhiên hoặc trắng đục, cứng, rắn nhưng không giòn, khả năng cách điện, không thấm nước và khả năng chịu va đập và độ dại. Ứng dụng trong sản xuất mũ bảo hiểm, linh kiện xe máy, thùng chứa,….

NHỰA TÁI CHẾ

Nhựa tái sinh là loại nhựa được sản xuất từ nhựa thu gom. Các sản phẩm rác nhựa được thu gom, phân loại và tái chế theo từng quy trình khác nhau. Nhựa được phân loại, nghiền nhỏ, làm sạch và sau đó là làm khô rồi nung chảy thành hỗn hợp. Sử dụng máy đùn để ép nhựa chuyển thành dạng sợi bún hoặc dạng hạt nhựa.

Nhựa tái sinh được dùng làm nguyên liệu sản xuất công nghiệp, xây dựng và môi trường.
© 2007 - 2021 https://piano.danorgan.info
- Phone: +84-908-744-256